Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU TẦM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SƯU TẦM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2014

CÔ BẮC KỲ NHO NHỎ... - Sưu tầm


                                    

                                     Đôi mắt tròn,đen, như búp bê
                                     Cô đã nhìn anh rất...bắc kỳ
                                                    1973


           CÔ “BẮC KỲ NHO NHỎ” BÂY GIỜ RA SAO?


Thuyết phục mãi, chị Hoàng Thị Kim Oanh – nguyên mẫu trong bài thơ “ Cô Bắc kỳ nho nhỏ” của nhà thơ quá cố Nguyễn Tất Nhiên – mới đồng ý chia sẻ với tôi những hoài niệm tuổi học trò… Chị kể khi xưa chị hiền lành, nhưng không khờ khạo đến mức, không biết có nhiều cây si trước ngõ nhà mình. Nhưng điều đó, chỉ khiến chị mỗi lúc một ngại ngùng giao tiếp. Dần dà, chị sống khép kín tựa cô chim non trong chiếc lồng son. Ba mẹ của chị đông con, nhưng các con của ông bà rất thuận hòa, hết lòng yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Với suy nghĩ non nớt lúc bấy giờ, như vậy đã quá đủ cho cuộc sống riêng của chị.

Thật ra, chị Oanh không thuộc tuýp người lãng mạn. Ngoài tình thương yêu của ba mẹ và anh chị em trong gia đình, chị gần như không có nhu cầu tình cảm nào khác.
Hỏi chị khi xưa, có biết “Oanh là nguyên mẫu trong bài thơ của anh Hải?..”
Chị cười hiền lành: “Chị có biết, nhưng hồi đó chị sợ muốn chết luôn… ”
Biết chị thích đọc sách, anh Hải mang tặng chị nhiều quyển sách bìa cứng bọc gáy vàng rất đẹp. Anh cũng tặng chị nhiều cánh thiệp xinh xinh vào những dịp lễ, và cũng có khi anh tặng thiệp chỉ vì… thích vậy thôi! Và đặc biệt, anh Hải luôn tặng chị Oanh những bài thơ tình còn… nóng hôi hổi của anh, ngay khi thơ xuất hiện trên các trang tạp chí học trò. Tuy nhút nhát và kiệm lời, nhưng cô tiểu chủ cà phê Ca Dao luôn cư xử đúng mực với khách hàng đến quán.
Trước ngày sang Pháp, anh Hải mang đến cho chị Oanh một va-li đầy sách quí “ Em giữ sách cho anh…” Sau khi anh Hải ra đi, một phụ nữ trẻ tìm đến và đưa cho chị Oanh bức thư tay, bảo do anh Hải gửi. Nội dung thư, anh Hải nhắn chị giao va-li sách cho người cầm thư. Chị thoáng băn khoăn, vì nét chữ trong thư không giống nét chữ anh Hải thường xuyên gửi chị. Nhưng vốn cả tin, chị đã giao va-li sách của anh Hải cho người phụ nữ – mà đến tận bây giờ, chị vẫn chưa biết rõ – cô ấy là ai và từ đâu đến? Chị đã để lạc mất những quyển sách quí, như món quà từ biệt của anh Hải trước ngày anh xa xứ. Chỉ vì “cô Bắc kỳ nho nhỏ” ngày xưa ấy, nào biết chi “toan tính chuyện lọc lừa”, như anh Hải từng lên án… một người con gái Bắc khác.


 ntn_-_oanh_2-large-content

Tôi có cảm giác, thời gian quá thiên vị nguyên mẫu “ Cô Bắc kỳ nho nhỏ” trong thơ của Nguyễn Tất Nhiên. Không còn trẻ nữa – Tất nhiên rồi! – nhưng chị Oanh vẫn giữ nguyên vẻ đẹp thánh thiện thời con gái. Chị hứa một ngày đẹp trời, sẽ cho tôi xem lại những bút tích học trò của nhà thơ tài hoa bạc mệnh Nguyễn Tất Nhiên. Các con của chị, từ lâu cũng tò mò và vòi vĩnh mẹ Oanh cho xem “kho kỷ vật” từ lâu chị trân trọng giữ gìn. Chị Hoàng Thị Kim Oanh bây giờ vẫn nền nã dịu dàng, nhưng không hề “ ngầm ý khoe khoang” hay “ giả bộ ngoan hiền”, như lúc sinh thời nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã “trách oan”… một cô Bắc kỳ khác…

                                                                                                Sưu tầm

                  CÔ BẮC KỲ NHO NHỎ                        


                  Đôi mắt tròn, đen, như búp bế

                  Cô đã nhìn anh rất ... Bắc Kỳ
                  Anh vái trời cho cô dễ dạy
                  Để anh đừng uổng mớ tình si

                  Anh vái trời cho cô thích mộng

                  Để anh ngồi kể chuyện nằm mơ
                  "Đêm qua có một chàng bươm bướm
                  Nguyện chết khô trên giấy học trò "

                  Anh chắc rằng cô sinh trong nam

                  Cảnh tượng di cư chắc lạ lùng ?
                  Khi nghe ai luyến thương Hà Nội
                  Chắc cô nghe bằng tim dửng dưng

                 Anh vái trời cho cô dửng dưng

                 Coi như Hà Nội - xứ hoang đường
                 Để anh còn dắt cô đi dạo
                 Còn rủ cô vào rạp cải lương

                 Anh vái trời cô thích cải lương

                 "Thích kẻ anh hùng diệt bạo tàn"
                 Mốt mai thê thảm quanh đời sống
                 Cô sẽ còn đôi chút lạc quan

                 Đôi mắt tròn, đen, như búp bế

                 Cô nhớ nhìn thiên hạ lận lường
                 Mà hãy nhìn anh cay lắm chuyện
                 Nhưng còn con trẻ chuyện yêu đương

                                         Nguyễn Tất Nhiên
                                                (1973)

Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

TRỒNG HOA HỒNG TẠI NHÀ TỪ... KHOAI TÂY


Đã bao giờ bạn nghe nói đến phương pháp trồng (nhân giống) cây hoa hồng tại nhà bằng cách giâm cành từ củ khoai tây, rồi trồng xuống đất hay chưa? 
Nếu chưa, bạn sẽ không thể bỏ qua việc tìm hiểu phương pháp nghe có vẻ có hơi... điên rồ, kỳ lạ nhưng rất hiệu quả này đấy.


Để bắt đầu trồng cây hoa hồng tại nhà, bạn cần chuẩn bị:


- 1 củ khoai tây cỡ lớn (càng to càng tốt)
- 2 cành hoa hồng tươi
- Dụng cụ trồng: Bay nhỏ
- Kéo, nước tưới


Thực hiện:



Đầu tiên, cắt đôi củ khoai tây, và tạo một lỗ nhỏ ở trên đỉnh của hai nửa củ khoai. Kích thước của lỗ to hay nhỏ không quan trọng, miễn sao nó vừa vặn với cành hoa hồng.



Chuẩn bị 2 cành hoa hồng dài từ 18 – 20 cm, cắt bỏ phần nụ hoặc bông nếu có, phần gốc cành cắt chéo một góc 45 độ. Sau đó, cắm trực tiếp cành hoa hồng vào lỗ nhỏ đã tạo sẵn trên củ khoai tây.




Nên sử dụng cành vừa mới cắt từ cây mẹ xanh tốt.



Cuối cùng, trồng chúng xuống đất và tưới nước ngay lập tức.


Để đảm bảo việc giâm cành thành công và phát triển thành cây con khỏe mạnh, bạn phải sử dụng thêm các loại phân bón để kích thích quá trình hình thành bộ rễ sau khi trồng trong đất.
Đa số các giống hoa hồng không ưa thời tiết lạnh giá, vì vậy, thời điểm giữa mùa xuân sang mùa hè rất thích hợp để trồng hoa hồng. Những bông hoa của bạn sẽ đượm sắc hơn khi hấp thụ được đầy đủ ánh nắng mặt trời.



Góc sân vườn hay phòng khách của gia đình bạn sẽ trở nên sinh động hơn nếu có thêm vài chậu hoa.



Hoa Hồng đ­ược coi là biểu tư­ợng của tình yêu và hạnh phúc, lòng chung thuỷ và sự khát khao vươn tới cái đẹp. Với nhiều ư­u điểm: màu sắc đa dạng, cành hoa dài, lá xanh, mùi thơm nhẹ, có hoa quanh năm, hoa hồng có thể dùng làm hoa cắm bình, cắm lọ, trồng chậu, trồng bồn bonsai, trồng trang trí tr­ước và xung quanh nhà.
Hiện nay, bạn có thể trồng một số giống hoa hồng phổ biến ở Việt Nam như hồng lửa (hồng Sa-đéc), hồng tỉ muội, hồng Đà Lạt...



Hoa hồng lửa (Hồng Sa-đéc)



Hoa hồng tỉ muội.



Hoa hồng Đà Lạt.




Hoa hồng thuộc cây lâu năm, có thể trồng quanh năm và cho hoa thường xuyên nếu người trồng biết cách trồng và chăm sóc đúng yêu cầu sinh trưởng của cây.

                                                                                               Sưu tầm



                                 

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

MỐI TÌNH SI SUỐT 40 NĂM CỦA THI SĨ BÙI GIÁNG VỚI KỲ NỮ KIM CƯƠNG


                     


            MỐI TÌNH SI SUỐT 40 NĂM CỦA THI SĨ BÙI GIÁNG 
                                                         VỚI KỲ NỮ KIM CƯƠNG


Bên linh cữu Bùi Giáng trước khi hạ huyệt, Kim Cương thưa rằng, cảm ơn anh đã dành cho tôi một tình yêu suốt hơn 40 năm không suy suyển, không so đo tính toán...
Nhiều người cho rằng chính vì yêu Kỳ nữ Kim Cương mà thi sĩ nổi tiếng Bùi Giáng bị điên tình. Dù không muốn nói về mối tình "đơn phương" này nữa, nhưng NSND Kim Cương vẫn khẳng định: "Bùi Giáng là một người rất đặc biệt, vì thế mà tình cảm của anh ấy cũng không giống ai”.

Đạp xe cầu hôn người đẹp

Có lẽ suốt cuộc đời của thi sĩ Bùi Giáng, ngoài chuyện văn chương ra thì mối tình đơn phương suốt 40 năm có lẻ với nghệ sĩ Kim Cương là kỳ lạ và cảm động nhất. Biết Bùi Giáng từ khi mới 19 tuổi, nghệ sĩ Kim Cương khi ấy đã được mệnh danh là bậc "kỳ nữ". Bùi Giáng chú ý đến bà trong đám cưới của đôi bạn thân, rồi ngỏ ý muốn tới thăm nhà người mình ái mộ.
Bùi Giáng khi ấy là thầy giáo dạy học, áo quần chải chuốt tươm tất và chưa… điên! Ông mời Kim Cương lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi ngỏ lời cầu hôn nhưng người đẹp đều né tránh bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó "kỳ dị", bất bình thường nên sợ! 
Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói: "Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn Kim Cương hơn chục tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi". Kim Cương ngần ngừ: "Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính…" Mặc ý người đẹp muốn khéo léo chối từ, Bùi Giáng vẫn một mực cháu tới. Kim Cương hết hồn: "Thôi rồi ổng đúng là không bình thường!" khi nhìn thấy đứa cháu mới hơn… 8 tuổi! 
Từ đó, mỗi năm Bùi Giáng bệnh nặng hơn. Ông không có vợ con, suốt ngày đi lang thang, ngoài chùa chiền thì sau mỗi cơn say lại tìm đến nhà Kim Cương. Thời điểm ấy, con trai nghệ sĩ đã 5 tuổi thấy thi sĩ đầu bù tóc rối trên người lủng lẳng đủ thứ nào ống bơ, cờ quạt, vòng hoa… đôi khi treo cả nải chuối trước ngực thì cười khoe với mẹ: "Mẹ ơi, sao bác này giống cái xe hoa quá?". 
Nếu người đẹp không mở cửa, thi sĩ sẽ la hét, đập cửa khiến hàng xóm náo động. Buồn bực mãi rồi quen, rồi động lòng thương xót, nghệ sĩ Kim Cương nhiều lần lo cho gia cảnh cù bất cù bơ: "Sợ ổng chết. Tướng tá vầy có thể chết bất cứ lúc nào. Mà điều, không nỡ bỏ ổng lăn lóc ngoài đường, thấy tội quá".
Cách đây chưa lâu, khi ngỏ chuyện cùng tôi, nghệ sĩ Kim Cương mắt ngân ngấn lệ: "Cô biết không, có lần tôi đã hỏi cố nhân: Vì sao mà anh thương Kim Cương dữ như vậy?, ổng đáp: Vì lúc gặp cô trong tiệc cưới, cô mặc cái áo dài lụa trắng, tôi thấy hào quang chiếu ra cho tới bây giờ. Đó là lúc tôi 19 tuổi". 
Điên vì say đắm
NSND Kim Cương còn giữ rất nhiều bài thơ, hình ảnh của thi sĩ viết tặng riêng bà nhưng từ lâu bà từ chối mọi lời yêu cầu của các tờ báo, nhà xuất bản xin được phát hành, đặc biệt sau khi Bùi Giáng vừa qua đời.
Ngoài những vần thơ mượt mà, Bùi thi sĩ còn dùng cách biểu đạt dị kỳ để thể hiện nỗi "ám ảnh dị thường" của hình bóng Kim Cương đang ngự trị trong tâm trí ông: "Ngàn năm điêu đứng đọa đày/ Thiên thu sử lịch cau mày về sau/ Thưa em đời mộng dạt dào/ Tình yêu vô tận yêu đào vô biên". 
Cả đời Bùi Giáng chỉ nhớ mỗi số điện thoại nhà Kim Cương, khi ông làm náo loạn trật tự, bị công an "hỏi thăm" cũng chỉ biết đọc lên số điện thoại này; lúc bị ngã xe vào cấp cứu bệnh viên, tỉnh lại cũng mang số điện thoại ra để trả lời bác sĩ.  
Cầm trong tay những kỷ vật của thi nhân, nghệ sĩ Kim Cương bùi ngùi nhớ lại: "Hình như kiếp trước tôi có nợ gì với ổng… Năm nào cũng vậy, sáng mùng một Tết là ổng đến xông đất. Ổng tuy điên, nhưng mà là cái điên của người trí thức, nói nhiều câu rất sâu sắc”. 
Có lần Kim Cương tặng Bùi Giáng một cặp kính lão, nhưng sau đó ông bị người ta đánh vỡ mất một tròng kính. Kim Cương dỗ: “Để tôi mua kính mới cho anh nha!”. Ông lắc đầu: “Thôi khỏi, nhìn đời bằng một con mắt là đủ rồi”. Hệt như câu thơ ông viết “Bây giờ riêng đối diện tôi/ Còn hai con mắt khóc người một con”.

Một ngày tháng 8/1998, Bùi Giáng bị ngã gây chấn thương sọ não, Kim Cương là người đầu tiên được gia đình báo đến Bệnh viện Chợ Rẫy. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Kim Cương thấy Bùi Giáng sạch sẽ nhất: Râu tóc gọn ghẽ quần áo phẳng phiu… Kim Cương cũng đồng ý cho phẫu thuật dẫu rằng hy vọng rất mong manh. Và rồi Bùi Giáng đã trút hơi thở cuối cùng. Khoảng nửa tháng trước đó, ông đã viết cho Kim Cương những vần thơ như một lời báo trước: “Ông đi đau xiết vui buồn/ Một mình ở lại muôn trùng em yêu”. 
Bên linh cữu Bùi Giáng trước khi hạ huyệt, Kim Cương thưa rằng: “Tôi xin cảm ơn anh ba điều: Một là cảm ơn anh đã để lại cho đời những tác phẩm văn chương độc đáo. Thứ hai là cảm ơn anh đã dành cho tôi một tình yêu suốt hơn 40 năm không suy suyển, không so đo tính toán. Thứ ba là cảm ơn anh đã cho tôi bài học rằng dù bất cứ ai dẫu điên hay tỉnh, giàu hay nghèo… đều phải có một mối tình để nương tựa”.

                                                                                            Sưu tầm  


             


                NGƯỜI CON GÁI MẶC QUẦN...

                   Người con gái hôm nay mặc quần đỏ
                   Vì hôm qua đã mặc chiếc quần đen
                   Đen và đỏ là hai màu rồi đó
                   Cũng như đời, đường hai nẻo xuống lên

                  Người con gái hôm nay mặc quần trắng
                  Vì hôm qua đã mặc chiếc quần hồng
                  Hồng và trắng là hai màu bẽn lẽn
                  Cũng như núi và rừng đều rất mực chênh vênh

                  Người con gái hôm nay mặc quần tím
                  Vì hôm qua đã mặc chiếc quần vàng
                  Vàng và tím là hai màu mỉm miệng
                  Mím môi cười và chúm chím nhe răng

                  Người con gái hôm nay mặc quần rách
                  Vì hôm qua đã mặc chiếc quần lành
                  Lành và rách đều vô cùng trong sạch
                  Bởi vì là lành rách cũng long lanh.

                                                       Bùi Giáng

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

XEM MỘT VÀI HIỆN TƯỢNG THÚ VỊ TRONG TIẾNG VIỆT - Lê Trung Hoa





XEM MỘT VÀI HIỆN TƯỢNG THÚ VỊ TRONG TIẾNG VIỆT


     Trong tiếng Việt, có những từ ngữ hoặc địa danh sử dụng hằng ngày mà nếu có người hỏi tại sao nói thế và nguồn gốc của những từ ngữ ấy từ đâu thì chúng ta đành bó tay; chẳng hạn câu hỏi trên trong một bài ca dao: 

                    Nước không chưn sao kêu nước đứng?
                    Cá không giò sao gọi cá leo?
                    Ghe không tay sao kêu ghe vạch?
                    Bánh không cẳng sao gọi bánh bò?..

1. Hiện tượng tỉnh lược trong ngôn ngữ.
 
      Chúng ta chỉ có thể giải đáp câu trên dựa vào cuốn Ðại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, xuất bản cách đây trên 110 năm. Trong sách này, tác giả ghi bánh vú bò và giải thích vì bánh đổ vào chén, trông giống như cái vú con bò. Về sau rút gọn thành bánh bò. Ðây là hiện tượng tỉnh lược trong ngôn ngữ.
       Các từ sau đây cũng bị hiện tượng tỉnh lược chi phối: dầu con rái => dầu rái, nấm tai mèo => nấm mèo...
       Ở miền Bắc có một loài cá giống và to bằng cá chép, nhưng có đặc điểm là tươi rất lâu tên là cá rói. Dù bị bắt ra khỏi nước từ sáng đến trưa cá vẫn còn tươi nên có thành ngữ tươi như cá rói, về sau tỉnh lược thành tươi rói.
       Một thành ngữ tương tự: ngay như cây chò (một loại cây rừng thân rất thẳng) => ngay chò (ở Nam bộ biến âm thành ngay chừ).
     Cầu Kiệu ở TP.HCM được Trương Vĩnh Ký ghi là cầu Xóm Kiệu (tức là xóm chuyên trồng kiệu), như vậy chữ Xóm ban đầu đã bị giản lược.

 2. Hiện tượng mượn âm.
 
      Một từ khá phổ biến ở Nam bộ dùng để chỉ người phụ giúp tài xế lái xe đò trong công việc bán vé, thu tiền, khiêng xách hành lý là lơ xe. Từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp contrôleur, nghĩa là “người kiểm soát (vé)”. Như vậy, từ một âm tiết vô nghĩa - leur, người Việt biến thành một từ có nghĩa.
      Ở miền Bắc, người ta thường dùng từ ngữ săm lốp để chỉ vỏ ruột xe đạp và xe gắn máy. Lốp thì người miền Nam cũng dùng và những người biết tiếng Pháp đều biết nó bắt nguồn từ enveloppe, nghĩa là “vỏ xe”. Còn săm ban đầu người miền Nam và nhất là những người không học tiếng Pháp không hiểu nghĩa. Từ săm bắt nguồn từ ngữ chambre à air “ruột xe”.
      Tại sao có từ bồ bịch, nghĩa là nhân tình? Nguyên trước đây có một từ ghép bồ bịch, chỉ hai nông cụ. Bồ là dụng cụ đựng lúa, có đáy; còn bịch cũng là nông cụ đựng lúa nhưng là tấm ví khoanh tròn, không đáy vì lấy nền nhà làm đáy.
       Do đó, ca dao VN có câu:

                   Bởi anh chăm việc canh nông
                   Cho nên mới có bồ trong bịch ngoài.

       Trong tiếng Việt trước đây có từ bầu (bạn), có biến âm là bồ tương tự như đậu xanh - đỗ xanh, thi đậu - thi đỗ... Vì từ bồ (bạn) đồng âm với từ bồ (cái bồ) nên từ bồ bịch thứ hai (người yêu) ra đời. Chúng tôi gọi đây là hiện tượng mượn âm.
       Một số trường hợp tương tự. Trái sầu riêng có nguồn gốc từ Malaysia là đu-riêng. Ban đầu (giữa thế kỷ 19) người Việt dùng cả hai từ, sau loại hẳn từ đu-riêng.
        Huyện Kế Sách ở tỉnh Sóc Trăng gốc Khmer là Ksach, nghĩa là “cát”. Vì gần âm với từ kế sách (phương kế, sách lược) nên Kế Sách đã thay thế Ksach.
        Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine của Pháp đã được các trí thức VN khoác cho chiếc áo của Lữ Bố: Lã Phụng Tiên (họ Lữ cũng đọc Lã, Phụng Tiên là tự của Lữ Bố).
       Ðèo ở phía bắc thành phố Nha Trang do kỹ sư người Pháp Rury điều khiển sửa sang nên Pháp dùng tên người này đặt cho đèo. Người Việt đã gọi là đèo Rù Rì.

 3. Hiện tượng biến âm.

      Người Nam bộ thường bảo trẻ con đi chỗ khác chơi, không được láng cháng trước mặt. Nhưng trong từ điển của Huỳnh Tịnh Của đã nói ở trên ghi loán choán. Như vậy từ gốc là choán, yếu tố láy là loán và nghĩa gốc của láng cháng là “choán chỗ”. Ðây là hiện tượng biến âm.
        Ở các đô thị Nam bộ có loại xe chuyên chở đồ đạc phục vụ xã hội mang tên ba gác. Nhiều người biết tiếng Pháp cũng ngỡ ngàng khi biết nguồn gốc Pháp của từ này là bagage, nghĩa là “hành lý”.

4. Hiện tượng láy nghĩa.

      Bỏng trong từ bé bỏng có nghĩa là “nhỏ”. Trong tập thơ cổ Thiên Nam ngữ lục có câu thơ sử dụng từ bỏng với nghĩa này:

                     Trẻ thơ bỏng dại thiếu người lo toan

      Hai từ bé và bỏng đồng nghĩa hay gần nghĩa kết hợp với nhau. Ðó là hiện tượng láy nghĩa.
       Nhiều từ trong tiếng Việt bị chi phối bởi hiện tượng này: Việt + Việt: tìm kiếm, chờ đợi, yêu thương; Việt + Pháp:canh gác
     Biết được nguồn gốc và ý nghĩa của nhiều từ tiếng Việt, ngoài cảm giác thú vị, ta còn yêu thích tiếng mẹ đẻ hơn.
 
                                                                               LÊ TRUNG HOA

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THƠ MỚI ( TT)



                 



  II.  Dùng Phong Hóa, Ngày Nay để vạch ra, chế giễu những chỗ dở, chỗ sáo rỗng của nhiều bài thơ cũ:


   Trong các nhà thơ cũ giữa giai đoạn tranh chấp “thơ cũ, thơ mới,” Tản Đà có địa vị rất cao. Có lẽ chính vì thế, nhóm chủ trương Tự Lực Văn Đoàn đã lựa chính Tản Đà để giễu cợt đầu tiên.Trong bài “Cảm thu, tiễn thu,” Tản Đà có những câu:

                           Từ vào thu đến nay
                           Gió thu hiu hắt
                           Sương thu lạnh
                           Giăng thu bạch
                           Khói thu xây thành
                           Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
                           Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly
                           Nhạn về én lại bay đi
                           Đêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm…

      Và:

                          Sắc đâu nhuộm ố quan hà
                          Cỏ vàng, cây đỏ, bóng tà tà dương …

        Hình ảnh tuy đẹp nhưng không giống cảnh sắc Việt Nam. Ngay trên Phong Hoá số 16 (tức số thứ ba của nhóm chủ biên mới, ra ngày 6/10/1932) đã xuất hiện một bài thơ với tên tác giả là Bán Than (một trong những bút hiệu khác của Khái Hưng), lấy nhan đề “Cảm thu” với những câu như sau:

                         Nào đâu mặt đất ngô đồng rụng
                         Chỉ thấy bên đường đám cỏ tươi
                         Trai gái quanh hồ cười khúc khích
                         Sầu riêng thi sĩ lệ đầy vơi.

         Hai tháng sau, trên Phong Hóa số 24 (ra ngày 2/12/1932), lại có một bức tranh “Cảm thu,” ký tên tác giả Đông Sơn (bút hiệu khác của Nhất Linh). Bức tranh gồm hai phần, mang tiêu đề “Tưởng tượng” và “Sự thật.”  Trong phần “Tưởng tượng,” tác giả vẽ một thi nhân mơ màng nhìn lá rụng, tuyết rơi …, cùng bầy nhạn đang bay trên trời mà ngâm nga. Trong phần “Sự thật” ngay bên cạnh, ta thấy cảnh trời nắng chói chang, cây lá vẫn tươi tốt (đúng cảnh “thu” của Hà Nội). Một người rất giống Tản Đà, một tay cầm dù che nắng, tay kia cầm quạt vừa đi vừa quạt, khăn trên đầu lột ra khoác ở cánh tay (vì nóng). Trên trời không thấy chim nhạn nhưng có hai phi cơ đang bay, tiếng máy ồn ào. Ngay dưới bức tranh là mục “Giòng nước ngược” với một bài hát nói của Tú Mỡ, nhan đề “Tả bức tranh cảm thu” với những câu như sau:

                       Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt
                       Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng?
                       Trên đường đi nóng rẫy như rang
                       Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ …

          Công bình mà nói, nhóm chủ trương Tự Lực Văn Đoàn không có ý chỉ trích cá nhân Tản Đà. Họ chỉ muốn châm biếm những chỗ sáo, quá xa sự thực của các nhà thơ cũ.  

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THƠ MỚI



Đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho nền văn xuôi Việt Nam tương đối dễ nhận thấy và đã được nhiều người đề cập tới. Nhưng các tác giả trong Tự Lực Văn Đoàn còn góp sức một cách rất đáng kể trong việc đưa phong trào Thơ Mới tới chỗ thành công
                                                                                                   Trần Huy Bích


 TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THƠ MỚI

 Khi nhiều nhà thơ mới có tài xuất hiện thêm trên thi đàn, hào quang rực rỡ của Thế Lữ có giảm đi phần nào, nhưng công của ông trong việc “dựng nền” cho phong trào Thơ Mới quả không thể phủ nhận. Đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho nền văn xuôi Việt Nam tương đối dễ nhận thấy và đã được nhiều người đề cập tới. Nhưng các tác giả trong Tự Lực Văn Đoàn còn góp sức một cách rất đáng kể trong việc đưa phong trào Thơ Mới tới chỗ thành công.

 Qua hai tiếng “Thơ Mới,” chúng tôi muốn nói đến phong trào thơ do Phan Khôi khởi xướng với bài “Tình già,” đăng trên Phụ Nữ Tân Văn số 122 (tháng 3 năm 1932), được một vài nhà thơ như Lưu Trọng Lư hưởng ứng. Tuy nhiên, chỉ sau khi các nhà thơ trong Tự Lực Văn Đoàn đã “nhập cuộc,” cộng thêm sự tham dự của một số thành viên khác (nhiều lúc nhân danh toàn nhóm), qua nhiều phương tiện khác nhau, nhất là trên hai tờ tuần báo Phong Hóa và Ngày Nay, phong trào này mới bộc phát mạnh mẽ, đưa “Thơ Mới” tới vị trí ưu thắng. Xin được trình bày sự kiện ấy qua những trang sau.

 I. Đóng góp của các nhà thơ trong Tự Lực Văn Đoàn: Trong Tự Lực Văn Đoàn có ba nhà thơ, nhưng Tú Mỡ sáng tác theo các thể cũ, chỉ có Thế Lữ và Xuân Diệu là những nhà thơ hoàn toàn “mới.” Xin được đề cập tới hai nhà thơ này trước.


 THẾ LỮ:

 Theo Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại, Thế Lữ là “một thi sĩ có công đầu trong việc xây dựng nền thơ mới.” Cũng theo Vũ Ngọc Phan, “Phan Khôi, Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến thơ mới mà thôi, … Thế Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai của thơ mới.” Thơ của Thế Lữ không chỉ mới về lời mà còn về ý tưởng. Những ý ấy được ông diễn đạt một cách tha thiết, nồng nàn

                 Tôi chỉ là một khách tình si
                 Ham vẻ Đẹp có muôn hình, muôn thể
                 Muợn lấy bút nàng Ly Tao, tôi vẽ
                 Và mượn cây đàn ngàn phiếm, tôi ca
                 Đẹp u trầm, đắm đuối, hay ngây thơ

 Cũng như vẻ Đẹp cao siêu hùng tráng của non nước, của thi văn, tư tưởng …
                                                                                (Cây đàn muôn điệu)

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

ĐÀ LẠT TÔI YÊU


Đà Lạt tôi yêu. Con tôi thường hay nói. Mẹ sao, hơi tí chút lại ngày xưa, ngày xưa... Có lẽ bạn cũng nghĩ tôi hay nhắc đến ngày xưa thế ? Vâng, làm sao được khi trong cõi nhân sinh đời người quá khứ luôn hiện diện trong tâm trí, nhất là khi cuộc đời đang xế bóng những kỷ niệm đẹp thuở thanh xuân hay hiện về trong cuộc sống hiện tại của chúng ta. Dù nay không còn là cư dân của thành phố mộng mơ, nhưng tôi luôn nhớ về nó nơi tôi có biết bao kỷ niệm đẹp. Tôi bây giờ như người Do Thái phiêu linh khi xưa, ngồi bên bờ sông Babylon tưởng nhớ cố hương thương tiếc một thời đã qua. Ôi, Đà Lạt của tôi ơi...

      Thành phố Đà Lạt có đặc điểm đường xá ngã tư không có đèn xanh đèn đỏ


Khi vừa bước chân vào thành phố hình ảnh đầu tiên bạn thấy là Hồ Xuân Hương, những đồi thông gần hồ càng làm cho mặt hồ thơ mộng hơn. Hồ mang tên người thi sĩ này từng giết chết hai anh phi công đa tình. Năm 1966 một chiếc phi cơ trực thăng bay vòng vòng trên mặt hồ, vài cô nữ sinh đang uống cà phê trong Thủy Tạ chạy ra ngoắc ngoắc,chiếc phi cơ bay vòng trở lại,đâm đầu xuống hồ chìm nghỉm. Năm 1972 một anh phi công có nhà ở ấp Ánh Sáng. Sau một phi vụ về qua ghé thăm nhà ngờ đâu chiếc máy bay đâm thẳng xuống hồ nổ tung

Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

NHÀ THƠ PHẠM THIÊN THƯ


                                             Nhà thơ Phạm Thiên Thư


Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long sinh tại Lạc Viên, Hải Phòng trong một gia đình Đông y. Năm 1943-1951, ông sống ở trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương. Năm 1954 cho đến nay, ông cư ngụ ở Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Từ 1964-1973: tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Trong năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu truyện Kiều-Đoạn trường Vô Thanh[1]. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh Điện công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân–Tâm)...

           Tác phẩm đã in

           Thơ Phạm Thiên Thư (1968)
           Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương)
           Động Hoa Vàng (Thơ, 1971)
           Đạo ca (Nhạc Phạm Duy)
           Hậu Kiều - Đoạn Trường Vô Thanh (1972)
           Kinh thơ (thi hoá Kinh Pháp Cú)
           Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài (Thơ)
           Kinh Hiếu (thi hóa kinh ?)
           Kinh Hiền (thi hoá Kinh Hiền Ngu, gồm 12.000 câu lục bát)
           Ngày xưa người tình (thơ)
           Trại Hoa Đỉnh Đồi (thơ, 1975)
           Thơ Phạm Thiên Thư (Nxb. Đồng Nai tái bản)
           Tự điển cười ( 24.000 bài tứ tuyệt tiếu liệu pháp)

 Năm 2007, Trung tâm Sách và Kỷ lục Việt Nam đã trao cho ông kỷ lục là người đầu tiên viết Từ điển cười bằng thơ) Vua núi vua nước (tức Sơn Tinh Thủy tinh, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2003). Cõi thơ Phạm Thiên Thư Trong bài Phạm Thiên Thư, người thi hóa kinh Phật, Hà Thi viết: Nhà thơ họ Phạm này tuy xuất hiện khá muộn (1968), nhưng cũng đã đóng góp vào văn học khá nhiều tác phẩm, đặc biệt là những thi phẩm ở dạng khá độc đáo: thơ đạo! Một trong những tác phẩm ấy của Phạm Thiên Thư đã được giải thưởng Văn Học Toàn Quốc (miền Nam Việt Nam) vào năm 1973 (tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh). Một số thơ của ông được phổ thành ca khúc đã mang lại một số đông công chúng yêu thích thơ ông: Em lễ chùa này, Ngày Xưa Hoàng Thị, Động Hoa Vàng, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu...Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời nửa đạo thật khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ...Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên.[2]

                Ừ thì mình ngại mưa mau 
                Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi 
                Sông này chảy một dòng thôi
                Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông 
                Ngày xưa em chửa theo chồng 
                Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi 
                Mùa thu áo biếc da trời
                Sang đông em lại đổi dời áo hoa